Muốn biết lãi "bao nhiêu nghìn một triệu một ngày" là cao hay thấp, nhân con số đó với 365 rồi chia 10.000 là ra phần trăm năm. 1.000 đồng/triệu/ngày = 36,5%/năm; 2.000 đồng = 73%/năm; 3.000 đồng = 109,5%/năm. Trần của Bộ luật Dân sự là 20%/năm, tương đương khoảng 548 đồng/triệu/ngày.
Vậy mọi mức từ 1.000 đồng/triệu/ngày trở lên đều đã vượt trần, nhiều mức vượt gấp vài lần. Cách báo lãi bằng đồng trên triệu trên ngày phổ biến ở cầm đồ và vay nhanh vì con số nhỏ, dễ nhớ, nhưng cũng chính vì nhỏ nên người vay ít khi nhận ra mình đang trả bao nhiêu.
Bài này đưa công thức quy đổi hai chiều, bảng các mức hay nghe nhất và cách dùng chúng khi đứng ở quầy.
Công thức quy đổi hai chiều
Gọi D là số đồng lãi cho mỗi 1 triệu đồng mỗi ngày. Vì 1 triệu đồng là 1.000.000 đồng, lãi phần trăm mỗi ngày bằng D ÷ 10.000. Từ đó: %/năm = D × 365 ÷ 10.000 và %/tháng (kỳ 30 ngày) = D × 30 ÷ 10.000.
Ví dụ: D = 1.500 đồng. Mỗi ngày là 0,15%. Một kỳ 30 ngày là 4,5%. Một năm là 54,75%. So với trần 20%/năm thì cao gấp khoảng 2,7 lần.
Chiều ngược lại, từ phần trăm năm ra đồng/triệu/ngày: D = %/năm × 10.000 ÷ 365. Ví dụ lãi 18%/năm thì D = 18 × 10.000 ÷ 365 ≈ 493 đồng. Lãi 1,5%/tháng cũng là 18%/năm, nên cũng khoảng 493 đồng mỗi triệu mỗi ngày.
Không cần nhớ công thức, chỉ cần nhớ một mốc: khoảng 550 đồng mỗi triệu mỗi ngày là trần. Con số nào cao hơn mốc này đều vượt giới hạn 20%/năm, chưa kể phí.
Bảng quy đổi các mức lãi hay nghe
Bảng tính theo năm 365 ngày và kỳ tháng 30 ngày. Cột cuối so với trần 20%/năm của Bộ luật Dân sự.
| Đồng/1 triệu/ngày | %/ngày | %/tháng (30 ngày) | %/năm | So với trần 20%/năm |
|---|---|---|---|---|
| 400 | 0,04% | 1,2% | 14,6% | Dưới trần |
| 500 | 0,05% | 1,5% | 18,25% | Dưới trần |
| 548 | 0,0548% | khoảng 1,64% | khoảng 20% | Đúng trần |
| 1.000 | 0,1% | 3% | 36,5% | Gấp khoảng 1,8 lần |
| 2.000 | 0,2% | 6% | 73% | Gấp khoảng 3,7 lần |
| 2.740 | 0,274% | khoảng 8,2% | khoảng 100% | Gấp 5 lần, ngưỡng hình sự về lãi suất |
| 3.000 | 0,3% | 9% | 109,5% | Gấp khoảng 5,5 lần |
| 5.000 | 0,5% | 15% | 182,5% | Gấp khoảng 9 lần |
Mốc 2.740 đồng đáng nhớ: đây là mức gấp 5 lần trần, ngưỡng lãi suất trong tội cho vay lãi nặng của Bộ luật Hình sự. Để bị truy cứu còn cần thêm điều kiện khác như số tiền thu lợi bất chính, nhưng nghe một mức báo từ 3.000 đồng trở lên là đủ biết khoản vay đó nằm rất xa vùng hợp pháp.
Vì sao con số nhỏ lại đánh lừa cảm giác
Đơn vị ngày làm con số co lại 365 lần. Ngân hàng báo lãi tiết kiệm theo năm, nên não quen so "vài phần trăm một năm". Khi nghe "hai nghìn một triệu", ta vô thức so với vài phần trăm đó và thấy nhỏ, trong khi thực chất là 73%/năm.
Tiền nghìn nghe như tiền lẻ. Hai nghìn đồng là giá một cốc trà đá, nên khó hình dung nó thành khoản lớn. Nhưng với khoản vay 20 triệu đồng, hai nghìn mỗi triệu mỗi ngày là 40.000 đồng mỗi ngày, 1,2 triệu đồng mỗi tháng.
Không thấy tổng vì trả rải rác. Đóng lãi từng ngày hoặc từng tuần khiến mỗi lần trả đều nhỏ. Chỉ khi cộng lại sau vài tháng mới thấy phần lãi đã vượt cả một phần đáng kể của tiền gốc.
Thời hạn ngắn che giấu lãi suất cao. Vay 10 ngày với 3.000 đồng/triệu/ngày chỉ mất 3% tiền gốc, nghe chấp nhận được. Nhưng nếu gia hạn liên tục ba tháng, bạn đã trả 27% gốc tiền lãi, cao hơn cả mức trần cho trọn một năm.
Quy đổi ngược khi tiệm báo theo tháng hoặc theo năm
Không phải tiệm nào cũng nói bằng đồng trên triệu. Khi gặp các cách báo khác, làm như sau để đưa về cùng một thước đo:
- Lãi báo theo tháng: nhân 12 để ra %/năm. Ví dụ 1,2%/tháng = 14,4%/năm. Muốn ra đồng/triệu/ngày thì lấy %/tháng × 10.000 ÷ 30: 1,2% cho ra 400 đồng.
- Lãi báo theo tuần: nhân 52 để ra %/năm. Ví dụ 1%/tuần = 52%/năm, gần gấp ba lần trần, dù nghe chỉ "một phần trăm".
- Lãi báo theo kỳ 10 ngày: nhân 36,5. Ví dụ 2%/10 ngày = 73%/năm, đúng bằng 2.000 đồng/triệu/ngày.
- Lãi báo bằng số tiền cố định: ví dụ "vay 5 triệu, mỗi tháng trả 300 nghìn tiền lãi". Lấy 300.000 ÷ 5.000.000 = 6%/tháng, nhân 12 ra 72%/năm.
- Cộng phí vào. Nếu có phí định kỳ, quy phí đó ra cùng đơn vị rồi cộng với lãi trước khi so với trần.
Sau khi đưa hết về %/năm, phép so chỉ còn một câu: có lớn hơn 20 hay không.
Ví dụ trên khoản vay thật: 30 ngày tốn bao nhiêu
Giả định bạn vay 10 triệu đồng trong 30 ngày. Ở mức 500 đồng/triệu/ngày, lãi là 10 × 500 × 30 = 150.000 đồng. Ở mức 548 đồng, đúng trần, lãi khoảng 164.400 đồng. Ở mức 1.000 đồng, lãi là 300.000 đồng. Ở mức 3.000 đồng, lãi là 900.000 đồng, gần một phần mười số tiền vay chỉ trong một tháng.
Cùng khoản đó mà kéo dài 90 ngày: mức trần tốn khoảng 493.000 đồng, mức 3.000 đồng tốn 2,7 triệu đồng. Khoảng cách giữa hai con số chính là phần người vay mất đi vì không quy đổi trước khi đồng ý.
Cách làm thực tế: trước khi đi cầm, lấy số tiền dự định vay (tính bằng triệu) × 548 × số ngày dự kiến. Đó là mức lãi tối đa hợp lệ. Đến quầy, hỏi tiệm lãi và phí, nhân theo cách tương tự. Hai con số chênh nhiều thì bạn đã có lý do để hỏi lại, thương lượng hoặc tìm tiệm khác trong danh bạ theo tỉnh thành.
Nếu khoản vay đang ở mức vượt trần rõ rệt, đó không chỉ là chuyện "đắt", mà là phần lãi không có hiệu lực theo luật. Biết điều này giúp bạn tự tin hơn khi thương lượng và khi cần nhờ cơ quan có thẩm quyền can thiệp.
Trả góp theo ngày: vì sao lãi báo thấp hơn lãi thật
Công thức quy đổi ở trên chỉ đúng khi lãi tính trên số gốc bạn đang giữ. Với kiểu vay trả góp theo ngày, mỗi lần trả gồm cả gốc lẫn lãi, gốc giảm dần nhưng lãi vẫn tính như thể bạn giữ trọn số tiền ban đầu suốt kỳ vay. Kết quả là lãi thật cao hơn nhiều so với con số được báo.
Ví dụ giả định: vay 10 triệu đồng, mỗi ngày góp 400.000 đồng trong 30 ngày, tổng trả 12 triệu đồng. Người cho vay thường báo "lãi 2 triệu một tháng", tức 20%/tháng trên gốc ban đầu, quy ra khoảng 243%/năm. Nhưng vì mỗi ngày bạn đã trả lại một phần gốc, số tiền bạn thật sự giữ trung bình chỉ khoảng 5,2 triệu đồng. Tính đúng theo dòng tiền, lãi thực rơi vào khoảng 445%/năm, gấp hơn 20 lần trần.
Phép thử nhanh tại quầy: hỏi số tiền mỗi lần trả có gồm cả gốc hay chỉ là lãi. Nếu gồm cả gốc mà tổng lãi vẫn tính trên số vay ban đầu, lấy con số lãi được báo nhân gần gấp đôi mới ra mức thật. Hợp đồng cầm đồ đúng nghĩa tính lãi trên gốc còn nợ, nên khi bạn trả bớt gốc thì lãi kỳ sau phải giảm theo; nếu không giảm, hãy hỏi lại trước khi ký.
Những lỗi quy đổi hay gặp
Ngay cả người quen tính toán cũng dễ sai ở mấy điểm sau, dẫn tới so sánh khập khiễng giữa các nơi:
- Chia cho 1.000 thay vì 10.000. 2.000 đồng trên một triệu là 0,2% chứ không phải 2%. Sai một số 0 là sai mười lần.
- Nhân 12 cho lãi theo kỳ 30 ngày. Kỳ 30 ngày nhân 12 chỉ được 360 ngày; chính xác hơn là nhân 365 rồi chia 30, tức khoảng 12,17. Chênh lệch nhỏ, nhưng nên biết khi đối chiếu với tiệm.
- So lãi một nơi có phí với lãi một nơi không phí. Phải quy phí ra cùng đơn vị rồi cộng vào trước khi so.
- Quên thời gian thực sự vay. Một mức lãi thấp nhưng có lãi tối thiểu 30 ngày có thể đắt hơn một mức cao hơn chút nhưng tính đúng theo ngày, nếu bạn chỉ vay một tuần.
- Nhầm lãi cả kỳ với lãi mỗi tháng. Câu "lãi 5% cho cả hợp đồng ba tháng" khác hẳn "lãi 5% mỗi tháng". Hỏi lại cho chắc trước khi bấm máy.
Mẹo kiểm chéo: sau khi quy đổi, nhân ngược lại ra số tiền lãi cho đúng khoản vay và số ngày của bạn. Nếu số tiền đó khớp với con số tiệm đọc ra thì phép quy đổi đã đúng; lệch nhiều thì một trong hai bên đang hiểu sai đơn vị.
Câu hỏi thường gặp
Lãi 1.000 đồng một triệu một ngày có phạm luật không?
Mức này tương đương 36,5%/năm, cao hơn trần 20%/năm nên phần vượt không có hiệu lực về dân sự. Nó chưa tới ngưỡng gấp 5 lần dùng trong tội cho vay lãi nặng, nhưng cơ sở cầm đồ cho vay ở mức này vẫn có thể bị xử phạt hành chính.
Lãi 5.000 đồng một triệu một ngày là bao nhiêu phần trăm một tháng?
Năm nghìn đồng trên một triệu là 0,5% mỗi ngày. Một kỳ 30 ngày là 15%, một năm là 182,5%. Vay 10 triệu đồng một tháng ở mức này tốn 1,5 triệu đồng tiền lãi.
Tại sao có nơi tính trần ra 1,67%/tháng, có nơi ra 1,64%?
Lấy 20% chia 12 tháng ra khoảng 1,67%. Lấy mức theo ngày nhân 30 ngày ra khoảng 1,64%, vì một năm có 365 ngày chứ không phải 360. Cả hai cách đều đúng, chỉ khác cách chia; chênh lệch rất nhỏ.
Lãi tiết kiệm ngân hàng quy ra đồng/triệu/ngày là bao nhiêu?
Một mức tiết kiệm giả định 5%/năm tương đương khoảng 137 đồng mỗi triệu mỗi ngày. So với con số này, bạn dễ thấy vì sao các mức vài nghìn đồng mỗi triệu mỗi ngày là rất cao.
Tiệm nói mức 2.000 đồng một triệu một ngày đã gồm cả phí thì có hợp lệ không?
Gộp phí vào hay tách ra thì tổng chi phí vẫn là 73%/năm, gần gấp bốn lần trần 20%/năm. Cách nói đã gồm phí không làm khoản vay hợp lệ hơn; thứ cần so với trần luôn là tổng tiền phải trả thêm trên số tiền thực nhận.